Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 267/2026/NĐ-CPchính thức có hiệu lực, lần đầu tiên quy định chi tiết phương pháp xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí trong khu vực nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường, mức xử lý kỷ luật cũng như bảo đảm việc xử lý hành vi gây lãng phí được thực hiện khách quan, thống nhất.

Nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí
Theo Điều 9 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, việc xác định thiệt hại phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
- Khách quan, công bằng và đúng quy định pháp luật.
- Thiệt hại phải là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền.
- Có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi gây lãng phí và hậu quả thiệt hại.
- Là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường và xử lý người vi phạm.
Đây là điểm mới quan trọng bởi trước đây pháp luật chưa có quy định cụ thể về cách lượng hóa thiệt hại đối với từng hành vi gây lãng phí.
13 trường hợp xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí
Từ Điều 10 đến Điều 22 Nghị định 267/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định phương pháp xác định thiệt hại tương ứng với từng loại hậu quả phát sinh.
Cụ thể gồm:
- Thiệt hại đối với hậu quả làm tăng chi ngân sách nhà nước.
- Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát ngân sách nhà nước, nguồn vốn của quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
- Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để phá dỡ công trình xây dựng hình thành từ dự án đầu tư.
- Thiệt hại đối với hậu quả dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện so với thời gian, tiến độ đã được phê duyệt.
- Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài sản công.
- Thiệt hại đối với hậu quả gây hư hỏng tài sản công.
- Thiệt hại đối với hậu quả làm phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa do không xử lý kịp thời đối với tài sản công không được sử dụng.
- Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh kinh phí ngân sách nhà nước để xử lý, khôi phục, phục hồi, bồi thường thiệt hại.
- Thiệt hại đối với hậu quả gây thất thoát tài nguyên, năng lượng.
- Thiệt hại đối với hậu quả phát sinh nghĩa vụ tài chính khác của Nhà nước.
- Thiệt hại đối với hậu quả thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Thiệt hại đối với hậu quả tài sản công không được đưa vào sử dụng.
- Thiệt hại đối với hậu quả làm giảm thu ngân sách nhà nước.
Đối với mỗi trường hợp nêu trên, Nghị định đều quy định riêng về căn cứ, nguyên tắc và phương pháp xác định giá trị thiệt hại, giúp cơ quan có thẩm quyền có cơ sở áp dụng thống nhất khi xử lý.
Xác định trách nhiệm bồi thường được thực hiện cùng quá trình xử lý kỷ luật
Không chỉ quy định về phương pháp xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí, Điều 23 Nghị định 267/2026/NĐ-CP còn quy định trình tự xác định trách nhiệm bồi thường.
Theo đó:
- Việc xác định trách nhiệm bồi thường được thực hiện đồng thời với quá trình xử lý kỷ luật.
- Quyết định xử lý kỷ luật phải xác định rõ căn cứ tính thiệt hại, mức độ lỗi, phạm vi trách nhiệm, số tiền và phương thức bồi thường.
- Người bị xem xét trách nhiệm bồi thường có quyền giải trình, cung cấp tài liệu, chứng cứ và đề nghị xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường trước khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định.
Quy định này giúp bảo đảm quyền giải trình của người bị xem xét trách nhiệm, đồng thời tăng tính minh bạch trong quá trình xử lý.
Gây lãng phí từ 2 triệu đồng đã có thể bị xử lý kỷ luật
Nghị định 267/2026/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các mức kỷ luật tương ứng với giá trị thiệt hại như sau:
Khiển trách
- Vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.
- Hoặc gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến dưới 75 triệu đồng nhưng thuộc trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật hoặc có hành vi không ban hành, chậm ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản về định mức, tiêu chuẩn, chế độ gây lãng phí.
Cảnh cáo
- Đã bị khiển trách mà tái phạm.
- Hoặc vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng.
Cách chức
- Áp dụng đối với người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gây thiệt hại trên 75 triệu đồng, có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và có tình tiết giảm nhẹ.
Buộc thôi việc
- Trường hợp gây thiệt hại trên 75 triệu đồng, không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc trường hợp tăng nặng theo quy định.
Đối tượng bị xử lý và trách nhiệm bồi thường
Ngoài việc quy định mức kỷ luật, Nghị định cũng xác định rõ các đối tượng phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi gây lãng phí.
Theo quy định:
- Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí trong phạm vi quản lý.
- Cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp có hành vi gây lãng phí hoặc vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
- Trường hợp gây thiệt hại thì người thực hiện hành vi còn phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Kết luận
Việc ban hành Nghị định 267/2026/NĐ-CP đã lần đầu tiên xây dựng một hệ thống đầy đủ từ nguyên tắc xác định, cách tính đối với từng loại thiệt hại đến trách nhiệm bồi thường và xử lý kỷ luật. Những quy định này góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống lãng phí, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý các hành vi gây thiệt hại cho Nhà nước và tài sản công.
Nếu quý vị và các bạn còn băn khoăn hoặc có tình huống cụ thể liên quan đến pháp luật, có thể liên hệ với Luật sư 360 theo thông tin được đăng tải trên website và các kênh mạng xã hội chính thức của Luật sư 360. Đội ngũ Luật sư 360 sẽ hỗ trợ, tư vấn chi tiết để giúp bạn hiểu rõ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật hiện hành.
Trân trọng kính chào!






Chủ đề tương tự
Kỷ luật cán bộ gây lãng phí: Cách chức, buộc bồi thường thiệt hại
Cho Thuê Nhà Ở Xã Hội Do Tổng Liên đoàn Lao Động Đầu Tư
Thủ Tục Cho Thuê Nhà Ở Xã Hội Vốn Nhà Nước Đầu Tư
Miễn Nhiệm Viên Chức Để Vợ Hoặc Chồng Vi Phạm Pháp Luật
Xử Phạt Hành Chính Trong Công Tác Tiết Kiệm Chống Lãng Phí
Chính Sách Hỗ Trợ Hộ Kinh Doanh Chuyển Đổi Số Từ 01/7/2026