Luật sư 360

Tư vấn pháp luật

Trang chủ » Không đăng ký thông tin lao động có thể bị phạt tới 20 triệu đồng

Không đăng ký thông tin lao động có thể bị phạt tới 20 triệu đồng

Từ ngày 10/9/2026, người sử dụng lao động không thực hiện đăng ký thông tin lao động theo quy định có thể bị phạt đến 20 triệu đồng theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP

Đăng ký thông tin lao động là nghĩa vụ quan trọng của người sử dụng lao động khi thực hiện thủ tục tham gia hoặc điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội cho người lao động. Theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/9/2026, hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định sẽ bị xử phạt với mức tiền lên đến 20 triệu đồng.

Không đăng ký thông tin lao động có thể bị phạt tới 20 triệu đồng

Mức xử phạt khi vi phạm quy định về đăng ký thông tin lao động

Điều 12 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định cụ thể mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm liên quan đến đăng ký thông tin lao động và điều chỉnh thông tin đăng ký lao động của cả người lao động và người sử dụng lao động.

Người lao động có thể bị phạt đến 02 triệu đồng

Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 02 triệu đồng nếu có một trong các hành vi sau:

  • Không cung cấp thông tin theo quy định;
  • Cung cấp thông tin không đầy đủ;
  • Cung cấp thông tin không chính xác.

Việc cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin là cơ sở để người sử dụng lao động thực hiện đúng thủ tục đăng ký thông tin lao động theo quy định của pháp luật.

Người sử dụng lao động không đăng ký thông tin lao động bị phạt thế nào?

Đối với người sử dụng lao động, mức xử phạt được xác định theo số lượng người lao động không được đăng ký hoặc điều chỉnh thông tin khi thực hiện hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội.

Cụ thể như sau:

Số lượng người lao động vi phạmMức phạt
Từ 01 đến 50 người05 – 10 triệu đồng
Từ 51 đến 100 người10 – 15 triệu đồng
Từ 101 người trở lên15 – 20 triệu đồng

Như vậy, doanh nghiệp vi phạm đối với từ 101 người lao động trở lên có thể bị xử phạt tối đa 20 triệu đồng nếu vi phạm quy định.

Thời hiệu xử phạt vi phạm về đăng ký thông tin lao động

Ngoài quy định về mức xử phạt, Nghị định 283/2026/NĐ-CP còn quy định thời hiệu xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động.

Theo đó:

  • 01 năm đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động và bảo hiểm xã hội;
  • 02 năm đối với vi phạm hành chính về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Sau khi hết thời hiệu, việc xử lý sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Doanh nghiệp cần làm gì để tránh vi phạm?

Để tránh bị xử phạt do vi phạm người sử dụng lao động cần:

  • Thực hiện đăng ký thông tin cho người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc;
  • Kịp thời điều chỉnh thông tin khi có thay đổi về nhân thân, vị trí việc làm hoặc các thông tin liên quan;
  • Kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của hồ sơ trước khi gửi cơ quan có thẩm quyền;
  • Lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan để phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra khi cần thiết.

Bên cạnh đó, người lao động cũng cần phối hợp cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin cá nhân để việc cho người sử dụng lao động để người lao động đăng ký theo quy định.

Kết luận

Từ ngày 10/9/2026, quy định về đăng ký thông tin lao động được siết chặt hơn theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP. Người lao động có thể bị phạt đến 02 triệu đồng nếu không cung cấp hoặc cung cấp thông tin không chính xác. Trong khi đó, người sử dụng lao động có thể bị xử phạt đến 20 triệu đồng nếu không thực hiện hoặc không điều chỉnh đăng ký thông tin lao động theo quy định. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động rà soát hồ sơ, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký để tránh rủi ro pháp lý và bảo đảm quyền lợi cho người lao động.

Nếu quý vị và các bạn còn băn khoăn hoặc có tình huống cụ thể liên quan đến pháp luật, có thể liên hệ với Luật sư 360 theo thông tin được đăng tải trên website và các kênh mạng xã hội chính thức của Luật sư 360. Đội ngũ Luật sư 360 sẽ hỗ trợ, tư vấn chi tiết để giúp bạn hiểu rõ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trân trọng kính chào!